Đại trực tràng dài khoảng 1,2 m, được chia thành đại tràng lên, đại tràng ngang, đại tràng xuống, đại tràng sigma và trực tràng.
Ung thư đại trực tràng là bệnh phát sinh bởi các tế bào ác tính hình thành từ các mô của đại trực tràng.
Các yếu tố nguy cơ gây bệnh
Nhìn chung, ung thư đại trực tràng là bệnh của người già. Nguy cơ ung thư đại trực tràng nâng cao nhanh khi bước qua tuổi 50. Hơn 90% ung thư đại trực tràng được chẩn đoán ở tuổi 50 trở lên.
Chế độ ăn cũng như lối sống của chúng ta đóng vai trò cần phải có nhất trong sự hình thành và tiến triển của ung thư đại trực tràng. Ăn quá nhiều chất béo, thịt, mỡ sẽ có nguy cơ cao mắc ung thư đại trực tràng, đặc biệt lại không ăn chất xơ, rau hoặc quá ít vận động, quá béo.
Các giai đoạn của ung thư đại tràng.
Cũng như một số các loại ung thư khác, ung thư đại trực tràng cũng có đặc tính di truyền. Nghĩa là ví dụ có tiền sử gia đình bị ung thư đại trực tràng sẽ có nguy cơ cao bị ung thư này. Ví dụ điển hình nhất là bệnh đa polyp, nếu như không được chẩn đoán và phẫu thuật kịp thời, bệnh nhân sẽ chết về lứa tuổi 35 – 40.
Ngoài ra, người bị viêm đường ruột như bệnh Crohn hay viêm loét đại trực tràng mạn tính cũng sẽ có nguy cơ bị ung thư cao hơn.
Vì đặc tính di truyền gen sinh ung thư đại trực tràng, ung thư vú, ung thư buồng trứng và ung thư nội mạc tử cung cùng nằm trên 1 nhiễm sắc thể, cho nên người có tiền sử bị ung thư vú, buồng trứng hoặc nội mạc tử cung dễ bị ung thư đại trực tràng hơn và ngược lại.
Triệu chứng ung thư đại trực tràng
Ung thư đại trực tràng cũng như phần nhiều các ung thư khác, tiến triển thầm lặng, ở giai đoạn sớm bệnh nhân hoàn toàn không có một triệu chứng nào. Khi có triệu chứng rõ rệt thì thường bệnh đã tại giai đoạn lan tràn. Điều này một lần nữa khẳng định vai trò cần thiết của việc khám bệnh liên tục và định kỳ.
Các triệu chứng thường gặp là trảo đổi đại tiện, lúc thì táo bón, lúc tiêu chảy. Đi ngoài phân máu tại giai đoạn tiến triển là 1 trong những dấu hiệu đáng tin nhất của ung thư đại trực tràng, đặc biệt khối u nằm càng gần hậu môn, thì triệu chứng này càng rõ. Mất máu lâu ngày, bệnh nhân có thể sẽ cảm thấy mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt và nặng hơn là khó thở. Thay đổi khuôn phân, phân có thể nhỏ lại.
Chẩn đoán bệnh
Chụp khung đại tràng: thụt Barium; Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng đánh mức giá kích thước khối u và sự lan tràn của bệnh; Nội soi đại trực tràng ảo thường vận dụng cho những người già không chịu đựng được soi đại trực tràng ống mềm.
Nội soi đại trực tràng ống mềm: là phương pháp duy nhất có thể tiến hành sinh thiết (hoặc cắt bỏ polype đại trực tràng) để chẩn đoán xác định ung thư đại trực tràng bằng mô bệnh học.
Các phương pháp khác: cho tới nay vẫn chưa có 1 phương pháp thử máu nào có thể dùng trong sàng lọc hay chẩn đoán ung thư đại trực tràng. CEA là 1 chất hóa học bài tiết từ các tế bào ung thư đại trực tràng, có thể nâng cao cao trong ung thư đại trực tràng. Nhưng chất hóa học này có thể tăng cao trong 1 số bệnh lý khác. Vì thế trị giá của CEA ý nghĩa nhất là để theo dõi tiến triển, tiên lượng và kết quả điều trị của ung thư đại trực tràng hơn là sàng lọc, chẩn đoán.
Điều trị
Cũng như các ung thư khác, có 4 phương pháp chính điều trị ung thư đại trực tràng: phẫu thuật, xạ trị, hóa trị và điều trị đích. Một số phương pháp mới đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm, trong đó phẫu thuật vẫn đóng vai trò cấp thiết nhất. Ngày nay phẫu thuật ung thư đại trực tràng có thể thực hiện bằng phẫu thuật nội soi và phẫu thuật robot.
Phương pháp điều trị đích nghĩa là thuốc điều trị ung thư nhằm đúng về đích là tế bào ung thư để tiêu diệt nên phương pháp này hứa hẹn nhiều thành công hơn trong tương lai.
Dự bộ phận bệnh thế nào?
Khám định kì hàng năm từ tuổi 40. Khi khám bác sĩ sẽ thăm trực tràng và làm xét nghiệm thử máu trong phân. Với những người có tiền sử gia đình bị ung thư đại trực tràng hoặc tiền sử cá nhân bị ung thư vú, buồng trứng, nội mạc tử cung cần khám ở độ tuổi sớm hơn và thường xuyên hơn. Từ 50 tuổi nên nội soi đại trực tràng. Nếu kết quả tốt, chỉ cần soi định kỳ mỗi 3 đến 5 năm một lần.
Thử máu trong phân đã và đang được phổ biến và vận dụng rộng rãi trên thế giới. Tuy nhiên phương pháp này cũng không phải đặc hiệu. Một phần ung thư đại trực tràng không phải lúc nào cũng xuất huyết, 1 phần vì 1 số thức ăn hàng ngày có thể làm kết quả dương tính giả, chẳng hạn ăn tiết canh vịt có thể cho kết quả dương tính.
Ăn nhiều rau, nhiều loại trái cây không giống và uống nhiều nước. Trung bình nên ăn khoảng 30 gram chất xơ mỗi ngày. Để dễ hình dung thì 1 quả táo chỉ chứa khoảng 3 gram chất xơ mà thôi.
Tập thể dục đều đặn, giữ cân nặng và thân hình cân đối.
Khám bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa ngay khi có triệu chứng báo động.
Tóm lại, ung thư đại trực tràng là ung thư thường gặp, càng lớn tuổi càng có nguy cơ cao. Ung thư đại trực tràng có thể phòng ngừa được một cách tương đối dễ dàng. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một phương pháp sàng lọc ung thư đại trực tràng hoàn hảo, nghĩa là vừa chính xác, an toàn, nhanh nhất và rẻ tiền. Nội soi đại trực tràng sinh thiết là phương pháp duy nhất để chẩn đoán xác định ung thư đại trực tràng. Phẫu thuật vẫn là phương pháp đóng vai trò thiết yếu trong sự phối hợp với hóa trị, xạ trị.
TS. BS. Phạm Văn Bình





0 nhận xét:
Đăng nhận xét